Người ta không rời bỏ công ty - Họ từ bỏ người lãnh đạo

23:21 |


Dịch từ Poeple don’t leave companies. They leave leaders của Greg Savage –

Tôi đã tuyển dụng hàng ngàn người trong những năm qua. Và mỗi khi nhận được đơn xin nghỉ việc, một phần trong tôi dường như đã chết (đồng ý, tôi nói dối. Tôi đã thậm chí nhảy múa ăn mừng trong một vài trường hợp nhưng đó là trong một bài viết khác).

Phần lớn, phản ứng tức thời của tôi rất bản năng là tôi tự hỏi: lý do thật sự khiến cho họ làm điều đó? Có chuyện gì xảy ra với họ? hay thậm chí: cô ấy phải ra đi vì tiền. Thật ngốc nghếch!
Nhưng tôi đã khôn dần lên theo sự nhiều lên của năm tháng.

Phần lớn, mọi người không thay đổi công việc vì tiền. Họ cũng không xin nghỉ vì thích hay trong cơn nóng giận. Họ vào làm việc ở công ty của bạn bởi vì họ tin là họ thích hợp và ai cũng muốn quyết định đó đúng đắn. Đôi khi, tại một số thời điểm, có những điều khiến cho điều đó trở thành sai. Và nếu như bạn thực sự dành thời gian để “đào sâu” tìm hiểu lý do mà họ để lại – thực ra là bạn phải làm điều đó – thì bạn sẽ nhận ra rằng đó hoàn toàn không phải là “vì công ty” như họ đã nói. Đó không phải vì địa điểm làm việc, vì nhóm, vì hệ thống hay vì không khí làm việc.
Đó là vì người lãnh đạo!

Người ta không rời bỏ công ty - Họ từ bỏ người lãnh đạo

Chắc chắn những người ấy không nói như thế. Và bạn chẳng thể tìm thấy được một từ đề cập đến vấn đề quản lý ở đây.
Nhưng khi họ nói về “tinh thần”, khi họ nói về “giao tiếp nghèo nàn”, khi họ bày tỏ sự thất vọng ở sự mập mờ, thiếu rõ ràng trong con đường thăng tiến, chính là họ đang đề cập đến những người lãnh đạo. Muốn rõ ràng hơn? Lãnh đạo là người có trách nhiệm trong việc gây dựng tinh thần – giao tiếp và con đường sự nghiệp của nhân viên.
Có lẽ vì thế mà tôi đã rất bực mình với những nhân sự cấp cao và ngăn họ lại giữa chừng – khi họ bắt đầu dùng những từ như ngu ngốc, vô ơn và dối trá để nói về những người nghỉ việc.

“Công ty” chỉ là một thực thể pháp lý. “Kinh doanh” chỉ là một bộ sưu tập bàn làm việc và máy tính. Không ai nghỉ việc vì những thứ đó.
Đó là quyết định, là động lực, là không khí làm việc, là sự hỗ trợ, đào tạo, tậm nhìn và sự chỉ đạo được xuất phát từ chính những người lãnh đạo mà họ đi theo.
Vì thế, lần sau khi bạn nhận được đơn xin nghỉ việc của nhân viên, hãy cố gắng đừng phấn khích và cười nhạo những người ra đi vì: đã thêm một kẻ ngu ngốc không thuộc về nơi này. Hãy dùng ít phút để ngẫm nghĩ về lý do thực sự khiến họ ra đi.

Họ không từ bỏ những thứ họ không có được – cũng không phải từ bỏ công ty.
Họ từ bỏ bạn!
Read more…

22:06 |
Nếu bạn là một người mới tìm hiểu về SEO hoặc đã có kinh nghiệm bạn cần biết những thuật ngữ seo này trước tiên.

1. SEO ?

SEO là từ viết tắt của Search Engine Optimization tạm dịch là tối ưu hóa website cho việc nâng thứ hạng web trên các cỗ máy tìm kiếm. SEO là một công cụ marketing online hữu hiệu nhất hiện nay và là nhân tố chính trong quảng bá website tới mọi người.

2. SES ?

SES là viết tắt của Search Engine Submission tạm dịch là Đăng ký website vào các cỗ máy tìm kiếm. SES được rất nhiều SEOer quan tâm vì đó là cách nhanh nhất giúp một website mới ra đời có thể được liệt kê trong danh bạ của các cỗ máy tìm kiếm.


3. Keyword ?

Keywords tạm dịch là từ khóa...Là từ chính miêu tả chung nhất về nội dung mà bạn đang có và là những từ dùng để chỉ sản phẩm, ngành nghề kinh doanh hay dịch vụ của website...

4. Backlink ?

Backlink đơn thuần là một link từ website khác tới website của bạn. Số lượng backlink là chỉ số về sự quan trọng và sự ảnh hưởng của một trang web nào đó. Số lượng backlink càng cao thì khả năng được tìm thấy trong các công cụ tìm kiếm càng cao.

5. Pagerank ?

PageRank hay Ranking viết tắt là PR tạm dịch là thứ hạng trang. Đó là một hệ thống xếp hạng trang Web của các máy tìm kiếm nhằm sắp xếp thứ tự ưu tiên đường dẫn URL trong trang kết quả tìm kiếm.
PageRank của Google hiển thị trên Google Toolbar là một số nguyên từ 0 cho đến 10. Đơn vị PageRank có tỷ lệ logarithmic dựa trên khối lượng link trỏ đến cũng như chất lượng của những trang Web chứ đường link xuất phát này. Theo Google một cách tóm lược thì PageRank chỉ được đánh giá từ hệ thống liên kết đường dẫn. Trang của bạn càng nhận nhiều liên kết trỏ đến thì mức độ quan trọng trang của bạn càng tăng.

6. Internet Directory ?

Internet Directory là thư mục trên internet chứa đựng rất nhiều website theo từng danh mục, từng chủ đề các nhau. Khác với các Cỗ máy tìm kiếm các thư mục internet không hoạt động tự động mà thường do người quản trị cập nhật thông tin thông qua bản đăng ký của các chủ website gửi đến. Nếu website của bạn có mặt tại nhiều thư mục internet thì các chỉ số ranking, pagerank và cả vị trí trên các search engine cũng cao hơn.

7. SEM ?

SEM là viết tắt của Search Engine Marketing. SEM chính là sự tổng hợp của nhiều phương pháp marketing nhằm mục đích giúp cho website của bạn đứng ở vị trí như bạn mong muốn trong kết quả tìm kiếm trên internet. SEM bao gồm các thành phần chính sau:

- SEO (Search Engine Optimization)
- PPC (Pay Per Click)
- PPI (Pay Per Inclusion)
- SMO (Social Media Optimazation)
- VSM (Video Search Marketing)

8. SE ?

SE là viết tắt của Search Engine là các cỗ máy tìm kiếm như Google, Yahoo, MSN - Bing, Ask,… Những cỗ máy tìm kiếm này sử dụng một phần mềm gọi là Robot, hay Spider, hay Bot hoặc Crawler để tự động index và lập chỉ mục tất cả các website trên đường chúng đi qua. Sau đó, những thông tin này được gửi về Data Center của cỗ máy tìm kiếm để xử lý, sàng lọc, phân loại và đưa vào lưu trữ. Khi một người dùng internet cần tìm một nội dung, họ sẽ đánh từ khóa và nhiệm vụ của cỗ máy tìm kiếm là lục tìm trên danh bạ của nó các kết quả liên quan (đã lập chỉ mục trước đó). Công việc này được tiến hành hoàn toàn tự động và có thứ tự ưu tiên khác nhau cho từng site khác nhau. Các website tốt, giàu nội dung (như các trang báo điện tử, các blog lớn, các diễn đàn đông thành viên) sẽ được index thường xuyên hơn.

9. On-page SEO ?

On-page SEO là cách SEO hướng đến nội dung của web bằng việc cải tiến lại code và nội dung cho trang web, để các search engine sẽ tìm đến website của bạn dễ dàng hơn. On-page SEO chủ yếu cải tiến HTML tags bao gồm thẻ Heading (Thẻ Title, thẻ description, các thẻ heading...).

10. Off-page SEO ?

Off-page SEO chủ yếu là việc tăng các liên kết đến website của bạn, càng nhiều liên kết thì càng tốt. Công việc off-page trong SEO cũng khá rộng nhưng chủ yếu là xây dựng backlink, trustrank.....

11. Google Penalty ?

Google penalty là một hình phạt mà Google đề ra để áp dụng cho các website mắc phải lỗi như:
- Link tới những site bị banned
- Gửi những query tự động lên Google
- Hidden text, hidden links
- Tạo backlink xấu
- On-page seo quá dở

12. Trustrank ?

Trustrank tạm hiểu là độ tin cậy của Google đặt vào một website, độ nổi tiếng của website đó, uy tín của website đó. Có thể là do website đã có vài năm, nhiều website nổi tiếng và link đến website đó, và website đó không sử dụng bất cứ kĩ thuật spam nào trong quá khứ.

13. Sitemap ?

Sitemap hay gọi là Sơ đồ của một website là một danh lục liệt kê tất cả các mục thông tin trên trang web của bạn cùng sự mô tả ngắn gọn cho các mục thông tin đó. Sitemap nên được sử dụng dễ dàng trong việc thực hiện tìm kiếm nhanh để tìm ra thông tin cần thiết cũng như trong việc di chuyển thông qua các đường link trên website của bạn. Sitemap nên là một sơ đồ hoàn hảo nhất của website. Sitemap là sự cần thiết cho trang web của bạn để đạt được một vị trí cao trong các hệ thống tìm kiếm, bởi vì các hệ thống tìm kiếm đánh giá rất cao cho các trang web có một sơ đồ điều hướng truy cập website.

14. SERP ?

SERP là viết tắt của cụm từ Search Engine Results Page tạm dịch là trang kết quả của công cụ tìm kiếm. Đây là trang Web mà các công cụ tìm kiếm hiển thị kết quả tìm kiếm ứng với truy vấn từ khóa tìm kiếm của người dùng.

15. Anchor text ?

Anchor Text tạm dịch là ký tự liên kết là chuỗi các ký tự ẩn chứa đường dẫn tới một trang Web hay các tài nguyên khác.

16. Google sitelinks ?

Google sitelinks là tập hợp các liên kết xuất hiện phía dưới địa chỉ trang trong kết quả tìm kiếm. Những đường liên kết phụ này trỏ tới các thành phần chính của trang Web đó. Nó được lựa chọn tự động bởi thuật toán của Google.

17. Outbound Link ?

Outbound Link chính là link ra hay là liên kết trên website của mình đến những website khác.

18. Pagerank Sculpting ?

Pagerank Sculpting tạm dịch là chế tác pagerank là việc mà Webmaster quảng lý những link liên kết ra ngoài. Liên kết nào phải dùng no-follow để chặn không cho các máy tìm kiếm nhận biết sự liên quan, liên kết nào phải chú trọng link sang để tiến hành cho website đó...

19. Cloaking ?

Cloaking là một kỹ thuật SEO mà giúp cho nội dung của site dưới mắt các Spiders của các Search Engines (cỗ máy tìm kiếm) khác với nội dung mà khách truy cập site thấy. Điều này thường được thựa hiện bằng cách sẽ điều chỉnh hiện nội dung tùy theo IP truy cập website.

20. Negative SEO ?

Negative SEO là cách mà các Webmaster sử dụng để tăng ranking trên các công cụ tìm kiếm cho trang Web của mình bằng cách sử dụng các link “rác” hay các thủ thuật khác bị cấm trên các Search Engine.

21. Web Crawler ?

Web Crawler được hiểu nó là 1 chương trình hoặc các đoạn mã có khả năng tự động duyệt các trang web khác theo 1 phương thức, cách thức tự động. Thuật ngữ khác của Web Crawler có thể dễ hiểu hơn là Web Spider hoặc Web Robot.

22. Bounce rate ?

Là tỷ lệ số người click vào website rồi bỏ đi (Không xem tiếp trang tiếp theo)

23. Conversion rate ?

Tỷ lệ số người đặt hàng/ tổng số người duyệt sites

24. Landing page ?

Là webpage đầu tiên hiển thị cho người dùng khi vào website. Ví dụ nếu người dùng search từ: "huong dan seo" thì google sẽ trả về trang http://www.phanmemseo.vn/huong-dan-seo-web.html chứ không phải trang chủ.

25. Impressions ?

Số lần website xuất hiện trên trang kết quả tìm kiếm ứng với mỗi từ khóa

26. Click through ?

Tỷ lệ % số người click vào link website trên trang kế quả tìm kiếm trên tổng số Impression

27. Top 10 ?

Là để chỉ website của bạn có mặt từ 1 đến 10 trong trang đầu tiên của các trang kết quả trả về từ các bộ máy tìm kếm.

28. SMO - Social Media Optimization

Khái niệm SMO (tạm dịch là Tối ưu hóa mạng xã hội) xuất hiện gần một năm do sự tiến bộ của các mạng xã hội. Theo số liệu Adplanner của Google, tổng traffic của các mạng xã hội hiện nay vượt xa các nguồn traffic khác và hiện đứng đầu về lượng traffic trên thế giới. Như vậy, tối ưu hóa mạng xã hội hay thực hiện tiếp thị lan truyền (Viral marketing) là một công việc quan trọng. Một website được tích hợp các công cụ SMO sẽ dễ dàng chiếm được các vị trí quan trọng trong cộng đồng mạng.

29. CRO - Conversion Rate Optimization

CRO (Tạm dịch Tối ưu hóa tỷ lệ chuyển đổi) là tỷ lệ rất quan trọng trong việc thiết kế website của doanh nghiệp. Trung bình cứ 100 khách hàng đến thăm website sẽ có một khách hàng tiềm năng. Đối với website, thực hiện tối hưu hóa sẽ tăng ít nhất 50% khách hàng tiềm năng.

30. Keyword Stuffing

Keyword Stuffing là thủ thuật liên quan đến các phần trong trang web lặp lại nhiều lần mộttừ khóa nhất định để gây ảnh hưởng lên kết quả công cụ tìm kiếm.

31. Link Farms

Link farm là 1 thuật ngữ tạm hiểu là một nhóm các websites được tạo ra với mục đích là nâng cao số lượng các đường link đến một website có sẵn. Những đường link này là “giả” nhằm báo hiệu chất lượng website mà chúng liên kết và vì thế chúng bóp méo kết quả công cụ tìm kiếm.

32. Hidden Text

Hidden text là thủ thuật nhằm che giấu văn bản trên trang web khiến cho công cụ tìm kiếm sẽ nhập vào danh mục nhằm mục đích tăng xếp hạng và người truy cập sẽ khó phát hiện ra.

Ví dụ: để đoạn văn bản trắng trên nền trắng (sử dụng css cho chữ và nền trùng màu nhau), để đoạn văn bản cùng màu với ảnh nền cùng màu....
Read more…

Thương mại điện tử Việt Nam bùng nổ nhờ di động

21:45 |
Việc sử dụng điện thoại thông minh đã gia tăng đáng kể tốc độ phổ cập Internet, các dịch vụ không dây và thay đổi hành vi kinh doanh tại Việt Nam.

Trong bài viết mới đây, Wall Street Journal cho rằng thế giới cần học tập Việt Nam trong việc đưa hàng triệu người vào kỷ nguyên số hóa, bỏ qua phương thức kết nối mạng cố định.

Tờ báo này dẫn số liệu thống kê cho thấy cứ 3 người Việt Nam thì một đang sử dụng điện thoại thông minh, thiết bị góp phần thúc đẩy mức tăng trưởng tốc độ phổ cập Internet lên 44%, từ mức 12% cách đây một thập kỷ. Đây là nhân tố góp phần thúc đẩy hàng loạt dịch vụ trực tuyến phát triển, đặc biệt là thương mại điện tử trên nền tảng di động. Chính phủ Việt Nam kỳ vọng thị trường thương mại điện tử sẽ có doanh thu 4 tỷ USD trong năm nay so với mức 700 triệu USD vào năm 2012.


Việt Nam là một trong số thị trường có tốc độ tăng trưởng người dùng thương mại điện tử cao nhất thế giới. Ảnh: Channel News Asia

Hằng ngày, những nhân viên mặc đồng phục bắt mắt của các công ty thương mại điện tử chạy xe máy len lỏi trên những tuyến phố Việt Nam để giao đủ loại mặt hàng từ giày nữ, quần áo nam cho tới thiết bị nhà bếp. Nhiều mặt hàng được giao tới các văn phòng, nơi các nhân viên tranh thủ thời gian rảnh để đặt mua hàng ngay trên điện thoại thông minh từ các trang web như Lazada hay Hotdeal. Chỉ vài năm trước, phương thức kinh doanh này rất khó phát triển bởi dịch vụ mạng cố định khá tốn thời gian và gặp nhiều khó khăn khi lắp đặt tại khu vực xa trung tâm.

Chính phủ Việt Nam cho biết cước 3G thuộc diện rẻ nhất trên thế giới, chỉ trên 3 USD mỗi GB. Sóng 3G cũng được phủ gần khắp toàn quốc. Kết quả một cuộc thăm dò của Nielsen cho thấy người Việt nghiền xem phim trên di động nhất thế giới. Hãng We Are Social tính toán số tài khoản mạng xã hội được sử dụng thường xuyên trên di động tại Việt Nam tính đến tháng 1/2015 tăng 41% so với cùng kỳ năm ngoái, nhanh hơn Trung Quốc, Ấn Độ và Brazil.

Tính đến quý I/2015, có 30 triệu người sử dụng Facebook thường xuyên, tăng từ mức 8,5 triệu vào năm 2012, đưa Việt Nam trở thành một trong những thị trường tăng trưởng nhanh nhất của mạng xã hội này. Một số bộ trưởng cũng mở trang Facebook cá nhân nhằm tiện theo tiếp cận với nhiều người dân.

Người sử dụng thiết bị di động thường quan tâm tới những đoạn phim ngắn gọn và dễ chia sẻ. Thói quen này là nhân tố khiến các hãng âm nhạc giải trí như Yan thay đổi để thích nghi. Trong những năm gần đây, Yan đã có những chương trình truyền hình được phát trên mạng truyền hình cáp tới khoảng 5 triệu hộ gia đình, các quán cafe và bar ở TP HCM. Công ty này cũng quản lý nghệ sĩ và tổ chức các chương trình ca nhạc và sự kiện. Ngoài ra, hãng còn phát những đoạn video phỏng vấn người nổi tiếng trên Internet trước khi lên truyền hình và tổ chức một chương trình dành cho tuổi mới lớn trên trang YouTube.

Chia sẻ với Wall Street Journal, Giám đốc Yan nhận định việc thay đổi phương thức trình bày nhằm phù hợp hơn với các nền tảng, đặc biệt là di động, chính là trọng tâm của hãng. Còn nhà sáng lập Jonny Võ khẳng định “mọi việc đều có thể” với sự bùng nổ di động

Mặc dù sự phát triển Internet khiến cạnh tranh trở nên khốc liệt hơn, nó cũng tạo ra những người hùng mới. Ví dụ như anh nông dân Nguyễn Đức Hậu, người có biệt danh Lệ Rơi, trở nên nổi tiếng như diễn viên truyền hình qua những đoạn phim ngắn trên YouTube hay Vlogger JVEvermind với 1,5 triệu người theo dõi trên YouTube nhờ kết nối các đoạn phim của mình thông qua Facebook, Twitter, Google+ và Instagram.

Theo dự báo của Media Partners Asia, tổng doanh thu quảng cáo ở Việt Nam sẽ đạt mức 1,2 tỷ USD vào năm 2017, gần gấp đôi so với vài năm trước đây.

Đức Anh (Theo Wall Street Journal)
Read more…

Alibaba ra mắt chỉ số thương mại điện tử

21:40 |
CSI Taojin Big Data 100 Index là chỉ số đầu tiên tại Trung Quốc theo dõi mảng này, gồm 100 cổ phiếu các công ty trong ngành dệt may, thực phẩm, khách sạn và hàng tiêu dùng.

Các doanh nghiệp được chọn dựa trên số liệu giao dịch được thu thập và phân tích qua hệ thống thương mại điện tử của Alibaba. Chỉ số này tận dụng nguồn dữ liệu khổng lồ Alibaba đang có, nhằm thu hút nhà đầu tư vào Ant Financial Services Group - hãng dịch vụ tài chính đang điều hành một quỹ đầu tư có tài sản 93 tỷ USD và dịch vụ thanh toán trực tuyến Alipay. Chỉ số này có thể thay đổi hàng tháng, loại bớt công ty có số liệu giao dịch kém, đồng thời bổ sung các doanh nghiệp hoạt động tốt.


Chỉ số của Alibaba là chỉ số đầu tiên theo dõi mảng này tại Trung Quốc. Ảnh:Bloomberg

Chỉ số "sẽ theo dõi sức khỏe các ngành công nghiệp dựa trên tốc độ tăng trưởng các giao dịch trực tuyến, mức giá và tình trạng cung cầu tại Trung Quốc. Nó dựa vào số liệu thanh toán và giao dịch thực hơn là báo cáo lợi nhuận hàng quý, nhằm cung cấp cho nhà đầu tư thông tin chính xác và kịp thời nhất", Ant Financial cho biết trong thông báo hôm nay.

Alibaba và Ant Financial có tham vọng lớn về dịch vụ tài chính ở Trung Quốc. Do lĩnh vực này vốn ưu tiên các doanh nghiệp lớn và công ty nhà nước, khiến nhiều cá nhân và doanh nghiệp nhỏ gặp khó khăn.

Ra mắt chỉ số này sẽ giúp Alibaba tiến gần hơn tới việc xây dựng một dịch vụ tài chính trực tuyến hoàn thiện. Ant cho biết họ sẽ cung cấp các dịch vụ như cho vay, bảo hiểm, thanh toán và đầu tư.

Alibaba hiện là hãng thương mại điện tử lớn nhất Trung Quốc. Trong khi đó, Alipay là nền tảng thanh toán online thống trị trong nước. Giới phân tích cho biết việc này sẽ giúp Alibaba có được kho dữ liệu lớn nhất Trung Quốc về tài chính các doanh nghiệp nhỏ và người tiêu dùng.

Họ nhận định đây là bước đi hợp lý với tham vọng tài chính của cả Ant và Alibaba. "Đây là động thái rất khôn ngoan, từ góc nhìn của Alibaba, do họ đã lập quỹ đầu tư trước và có thành công lớn. Bước tiếp theo sẽ là một quỹ đầu tư chỉ số", Howhow Zhang – Giám đốc hãng tư vấn Z-Ben Advisors nhận xét.

Hà Thu (theo Reuters)
Read more…

Thương mại điện tử Việt Nam có khấm khá?

21:36 |
Trong một bài viết có tựa đề Vietnam’s Mobile Revolution (tạm dịch: Cuộc cách mạng của di động Việt Nam) đăng ngày 12/6/2015, Wall Street Journal

Lấy Việt Nam làm ví dụ trong việc đưa hàng triệu người vào kỷ nguyên số hoá, bỏ qua phương thức kết nối mạng cố định.

Tờ báo này bình luận: “Nhờ sử dụng smartphone, tốc độ phổ cập internet từ mức 12% năm 2005 đã tăng lên 44% vào năm 2015. Đây là nhân tố góp phần thúc đẩy hàng loạt dịch vụ trực tuyến phát triển, đặc biệt là thương mại điện tử (TMĐT). Chính phủ Việt Nam kỳ vọng thị trường TMĐT sẽ có doanh thu 4 tỉ USD trong năm nay so với mức 700 triệu USD vào năm 2012”.

Thử nhìn lại hơn mười năm phát triển, nhất là từ năm 2010 tới nay, Việt Nam được các hãng sản xuất điện thoại di động đánh giá là thị trường có tỷ lệ tăng trưởng ngành hàng di động, chủ yếu là smartphone, cao nhất thế giới.

Tuy nhiên, so với nhiều quốc gia trong khu vực như Thái Lan, Indonesia, Malaysia, Singapore…, người dân Việt Nam biết đến các thiết bị di động có kết nối 3G khá muộn, bắt đầu từ năm 2011, sau hơn một năm kể từ khi các nhà mạng triển khai 3G.



Trong một khảo sát do hãng nghiên cứu thị trường TNS và Google thực hiện vào tháng 8.2014, tỷ lệ người dùng smartphone của Việt Nam là 36%, thấp hơn con số 40% của Thái Lan, 51% Malaysia và 85% của Singapore!

Việc nhiều hãng sản xuất trong và ngoài nước cạnh tranh mạnh mẽ đã làm giá nhóm hàng này liên tục giảm, đã thu hút nhiều đối tượng, độ tuổi… sử dụng; các công cụ, phương tiện trên môi trường internet như web, mạng xã hội bùng nổ… là những yếu tố thúc đẩy nhóm hàng di động phát triển trong vòng năm năm trở lại đây.


Năm 2015, theo dự báo, sẽ có khoảng 18 triệu chiếc smartphone được tiêu thụ. Theo tính toán của giới kinh doanh ngành hàng di động, hiện Việt Nam có khoảng 30 triệu chiếc smartphone đang hoạt động.

Liệu thị trường di động tăng trưởng có kéo theo những giá trị khác đi cùng? Cũng theo khảo sát của TNS và Google thực hiện, người tiêu dùng Việt Nam sử dụng smartphone chủ yếu để vào mạng xã hội, lướt web, tìm kiếm thông tin…, còn sử dụng smartphone cho hoạt động TMĐT chỉ chiếm 28%!

Hoa Kỳ năm 2014 có doanh thu TMĐT trên 300 tỉ USD, còn Trung Quốc ước chừng 218 tỉ USD. Kết thúc quý 3/2014, theo số liệu của tổng cục Thống kê Hàn Quốc, doanh số TMĐT khoảng 10,5 tỉ USD.


Theo hãng nghiên cứu thị trường eMarketer, doanh số TMĐT năm 2014 của Indonesia đạt 2,6 tỉ USD với các mặt hàng: quần áo, giày dép, túi xách, đồng hồ, vé máy bay, điện thoại di động, linh kiện ôtô… Theo ngân hàng Trung ương Úc (NAB), doanh thu TMĐT năm 2014 của Úc là 16,3 tỉ USD.

Còn Việt Nam thì sao?

Theo phép tính của cục TMĐT và công nghệ thông tin - CNTT (bộ Công thương) doanh số của TMĐT Việt Nam trong năm 2014 khoảng 2,97 tỉ USD. "Nếu tăng thêm sức mua khoảng 30 USD/người/năm, doanh số của TMĐT năm 2015 khoảng 4 tỉ USD", ông Trần Hữu Linh, cục trưởng cục TMĐT và CNTT đặt ra chữ "nếu" trong báo cáo đánh giá về TMĐT năm 2014!

Nhiều chuyên gia về TMĐT cho rằng, những con số đưa ra trong lĩnh vực này chỉ có "giá trị tô điểm", chỉ cần thay đổi một con số đầu vào sẽ cho kết quả đầu ra khác biệt "một cách khủng khiếp".

Chính một quan chức của hiệp hội TMĐT Việt Nam đã thừa nhận, "doanh thu của lĩnh vực này chỉ là những ước đoán dựa trên con số từ một vài website bán hàng mà các cơ quan kiểm soát được".

Dù công bố doanh số hàng tỉ đôla nhưng cục trưởng Linh thừa nhận, "còn quá nhiều rào cản để TMĐT Việt Nam phát triển như nhiều quốc gia khác trong khu vực".

Trong năm 2014, tiền mặt vẫn là hình thức thanh toán chủ yếu trong các giao dịch mua bán trực tuyến với tỷ lệ 64%. Sản phẩm kém chất lượng, giá cả không rõ ràng, thông tin cá nhân bị tiết lộ, khó kiểm định chất lượng hàng hoá, không tin tưởng người bán hàng, không có đủ thông tin để ra quyết định, mua ở cửa hàng dễ dàng và nhanh hơn, cách thức mua hàng trực tuyến quá rắc rối… là những phàn nàn của khách hàng khi tham gia mua bán trực tuyến.

Theo Song Minh - Thế gới tiếp thị
Read more…

Thương mại điện tử trước thách thức thanh toán, kho vận

21:22 |
Việt Nam bước vào giai đoạn "vàng" phát triển thương mại điện, song vẫn phải giải quyết những bài toán cũ như thanh toán bằng tiền mặt, thiếu hệ thống vận tải, kho bãi đạt chuẩn...

Tốc độ phát triển Internet nhanh chóng của Việt Nam thời gian qua luôn nhận được nhiều khen ngợi từ các tổ chức quốc tế. Wall Street Journal gần đây nhận định thế giới cần học hỏi Việt Nam trong việc đưa hàng triệu người vào kỷ nguyên số hóa. Trong khi đó, tờ báo Anh - The Loadstar đánh giá bùng nổ thương mại điện tử tại Việt Nam cũng như các nước châu Á đang tạo ra cơ hội phát triển cho nhiều ngành nghề khác, chẳng hạn như vận tải, giao nhận...


Thanh toán không dùng tiền mặt vẫn là thách thức lớn với thương mại điện tử Việt Nam. Ảnh: iStock

Trong khi đó, cơ quan quản lý trong nước cho biết tốc độ phổ cập Internet tại Việt Nam đang ở mức 44%, và chi tiêu qua kênh thương mại điện tử đạt mức 3 tỷ USD năm ngoái, tương đương với 2,12% tổng thu nhập từ kênh bán lẻ. Sóng 3G phủ gần khắp toàn quốc và cước thuộc diện rẻ nhất thế giới giúp khoảng 60% người Việt có thể mua hàng trực tuyến qua di động, theo Nielsen. Con số này cao hơn mức trung bình 44% trên thế giới. Tuy nhiên, sự phát triển nhanh chóng này cũng mang lại nhiều thách thức cho Việt Nam trong thời gian tới.

Ông Fabian Wandt, Giám đốc bộ phận Hệ thống phân phối và hoạt động thị trường Lazada Vietnam nhìn nhận: “Xét trên phương diện thanh toán, tỷ lệ sử dụng tiền mặt vẫn còn rất cao, do niềm tin vào thanh toán điện tử và chất lượng sản phẩm còn ở mức thấp”. Cùng nhận định trên, hãng Nielsen thống kê có tới 61% những giao dịch thương mại điện tử được thanh toán bằng tiền mặt. Lý do được đưa ra là lo ngại về an toàn thanh toán, không có thẻ tín dụng và mong muốn không phải chi trả chi phí giao dịch phát sinh.

Các chuyên gia cho rằng thói quen thanh toán bằng tiền mặt thay vì trả bằng thẻ sẽ là nhân tố kìm hãm tốc độ tăng trưởng. Điều này cộng với sự thiếu hụt những hãng cung cấp dịch vụ vận tải có mạng lưới hoạt động rộng sẽ mang đến nhiều thách thức trong quá trình giao - nhận hàng.

“Chúng tôi đang thiếu những nhà cung cấp dịch vụ vận tải lớn có khả năng hoạt động khu vực nông thôn. Bên cạnh đó, cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin thiếu hụt cũng tạo ra những bất lợi rõ ràng", ông Fabian Wandt cũng nói thêm. Ngoài ra, số lượng kho bãi chất lượng cao nằm gần trung tâm các đô thị cũng là thách thức lớn với những công ty như Lazada.

Về hiệu quả chuỗi cung ứng, các chuyên gia cho rằng việc tập trung vào thay đổi thói quen về mặt văn hóa và đào tạo nguồn nhân lực cũng quan trọng tương đương với việc thúc đẩy công nghệ mới. “Công nghệ mới đơn thuần sẽ không thể giải quyết được những thử thách hiện tại, chúng tôi cần tập trung vào các vấn đề về văn hóa và giáo dục”, đại diện một nhà phân phối nước ngoài nhận xét.

Thiếu hụt lao động kỹ năng cao là một hiện tượng dễ thấy trong ngành cung ứng và đặc biệt tại các thị trường mới nổi. Tại Việt nam, rất khó để tuyển lao động đáp ứng được đầy đủ tiêu chuẩn đề ra. “Thị trường thương mại điện tử đang tăng trưởng từng ngày với nhiều khách hàng mới. Những người chơi mới sẽ sớm gia nhập thị trường, góp phần thúc đẩy hệ thống logistics và tạo ra những phương pháp giải quyết hiệu quả hơn. Tốc độ tăng trưởng sẽ còn ấn tượng hơn nữa”, Fabian Wandt nhận xét.

Đức Anh
Read more…